News Ticker

Menu
Được tạo bởi Blogger.

Browsing "Older Posts"

Browsing Category "Y học"

Bài thuốc đơn giản rẻ tiền trị cảm cúm

6/13/2014 / No Comments
Mất khoảng 20 phút, và chưa tới 10.000 đồng một ngày, bạn đã có bài thuốc trị cảm cúm hiệu nghiệm đến bất ngờ. Tất cả những thứ bạn cần là quất, nghệ và mật ong.

Đây là bài thuốc "Quân bình âm dương" của giáo sư Bùi Quốc Châu được ông giới thiệu năm 1979, khiến những ai từng dùng đều ngạc nhiên vì sự đơn giản, an toàn, tính kinh tế và trên hết là hiệu quả của nó.

Bài thuốc này được bác sĩ chỉ định chữa các bệnh do nóng hay lạnh như cảm lạnh, cảm nóng, viêm mũi họng, viêm xoang…

Công thức:

- Nghệ xà cừ (khi cạo vỏ thấy màu vàng sậm): Một củ bằng ngón chân cái người bệnh. Nghệ tính dương.


- Quất tươi xanh (không dùng quất chín): một quả. Quất có tính âm.




- Mật ong: 3 thìa cà phê (hoặc đường phèn).


- Nước nóng: 1/2 chén.

Cách làm:


- Nghệ cạo vỏ, giã nhỏ. Quất cắt đôi, để nguyên hột, bỏ vào bát, thêm 3 thìa mật ong và 1/2 chén nước đem chưng cách thủy 15 phút. Uống ấm sau 2 bữa cơm chính trong ngày (2 lần một ngày). Không dùng trước khi ăn.

Liều dùng: Người lớn 5 thìa cà phê một lần (có thể ăn cả xác nghệ và quất). Trẻ em: 2-3 thìa cà phê một lần. Trẻ sơ sinh bú mẹ: Mẹ uống rồi cho con bú.

Thuốc dùng xong có thể cất trong tủ lạnh để dùng tiếp. Uống đến khi hết triệu chứng bệnh.

Theo kinh nghiệm của các bệnh nhân, thông thường, tới cuối ngày thứ hai bệnh bắt đầu chuyển biến, các biểu hiện đau họng, sổ mũi bắt đầu thuyên giảm. Trong đa số trường hợp, cuối ngày thứ ba người bệnh khá lên rất nhiều. Nhiều cháu bé phải sang ngày thứ tư mới thấy cải thiện nhưng sau đó bệnh lui rất nhanh.

Các mẹ có con nhỏ, khi đi chơi xa nên mang theo quất, nghệ, mật ong để nếu cần là có thể dùng ngay. Hy vọng bài thuốc này sẽ thực sự hữu ích cho các bạn và người thân.

Lưu ý:

- Với bệnh lạnh và người hư nhược, yếu ớt phải giảm liều quất xuống còn 1/2 quả.

- Với bệnh nóng thì tăng liều quất lên thành 2 quả và giảm liều nghệ xuống còn 1/2 đốt ngón tay út.

- Thuốc này thơm ngon và công hiệu nhưng cũng không nên lạm dụng vì sẽ bị phản tác dụng.

- Dấu hiệu bệnh nhiệt (nóng): Không sợ trời lạnh, không sợ gió, không sợ nước lạnh, hơi thở nóng, môi khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, khát nước, tiểu nóng, vàng. Mạch cổ tay đập nhanh, mạnh.

- Dấu hiệu bệnh hàn (lạnh): Ngược lại với các dấu hiệu trên, sợ khí hậu lạnh, sợ gió, sợ nước lạnh, hơi thở lạnh, môi khô, lưỡi không đỏ, rêu lưỡi trắng, không khát nước, tiểu trong. Mạch cổ tay đập chậm, yếu.

Bác sĩ Thu Thủy

Sắp có vaccin ngăn ngừa sốt xuất huyết

6/12/2014 / No Comments
Vừa qua tại Pháp, Tập đoàn dược phẩm Sanofi Pasteur đã ra thông cáo về nghiên cứu đầu tiên trong 2 nghiên cứu then chốt giai đoạn III của vaccine sốt xuất huyết dengue đã đạt được mục tiêu lâm sàng chính. Theo đó nghiên cứu tính hiệu quả cho thấy có sự giảm đáng kể đến 56% các trường hợp sốt xuất huyết dengue sau khi được thử nghiệm với vắc-xin này.


Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn III được thực hiện theo phương pháp ngẫu nhiên, mù-quan sát, giả dược-đối chứng đa trung tâm. Riêng tại chấu Á, có tổng cộng 10.275 trẻ em tuổi từ 2 đến 14, sống trong các vùng dịch ở Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand và Việt Nam tham gia từ năm 2011-2013, các trẻ này được chọn lựa ngẫu nhiên để tiêm 3 liều vaccin sốt xuất huyết hoặc giả dược (tỷ lệ 2:1) với các khoảng cách giữa các liều là 6 tháng. Việc tiến đến nghiên cứu giai đoạn III sẽ cung cấp những số liệu then chốt về tính hiệu quả, tính an toàn và tính sinh miễn dịch của ứng viên vaccin trên cỡ mẫu lớn về dân số, các môi trường dịch tễ khác nhau và đánh giá được tác động tiềm năng của vắc-xin trên gánh nặng của bệnh tật.

“Đây là lần đầu tiên chưa từng có, một vaccin sốt xuất huyết dengue đã hoàn tất thành công một nghiên cứu giai đoạn III đánh giá tính hiệu quả”. Dr Capeding, nghiên cứu viên chính, Viện Nghiên cứu bệnh lý bệnh nhiệt đới Philippines cho biết, “các kết quả lâm sàng đáng kể này, kèm với những dữ liệu an toàn cao của vaccin, mang lại hy vọng thực sự cho hơn 100 triệu người dân hàng năm bị mắc sốt xuất huyết dengue, một căn bệnh hiện nay không có bất kỳ điều trị đặc hiệu nào.

Nguồn: Sức khỏe đời sống

Tế bào gốc - Sự phát triển diệu kỳ của khoa học

/ No Comments
Các cuộc thí nghiệm lâm sàng về tế bào gốc đã thực sự bắt đầu vào năm 2004 và tăng mạnh kể từ đó cho đến năm 2011 trước khi chững lại trong hai năm qua. Trung tâm nghiên cứu tế bào gốc (Stem cell) thuộc Bệnh viện Cha tại quận Gangnam, Seoul đã thành công trong việc sử dụng tế bào thể (somatic cell) tạo ra tế bào gốc phôi (embryonic stem cell). Cụ thể, nhóm nghiên cứu này đã tạo được hai tế bào gốc phôi nhân bản từ tế bào thể của hai người đàn ông 70 tuổi và 30 tuổi.



Trước đó, năm 2013, một nhóm nghiên cứu của Mỹ đã từng thành công khi tạo ra tế bào gốc phôi nhân bản từ tế bào thể của trẻ sơ sinh. Như vậy, đây là thành công thứ hai trên thế giới trong lĩnh vực nhân bản tế bào gốc phôi của con người. Nhiều ý kiến cho rằng còn rất nhiều hạn chế trong các nghiên cứu về phôi vô tính (cloning embryo) trong thời gian qua, chẳng hạn như đây là nghiên cứu sử dụng tế bào trẻ sơ sinh nên không thể sử dụng trực tiếp trên cơ thể người bệnh được.

Tế bào gốc là tế bào còn non trẻ, có khả năng tự thay mới mình và biệt hóa thành các tế bào chuyên biệt khác để tạo nên các mô, cơ quan khác nhau của cơ thể. Phân loại theo nguồn gốc, có 2 loại là: tế bào gốc phôi, có tính chất “toàn năng” hoặc “vạn năng” có khả năng phát triển thành tất cả các loại tế bào của cơ thể - tế bào gốc trưởng thành, có tính chất “đa năng” hoặc “đơn năng” ít linh hoạt hơn và khó để nhận diện, phân lập và tinh luyện.

Tế bào gốc toàn năng rất ít, chỉ có 2 - 4 tế bào. Tế bào gốc vạn năng nhiều hơn nhưng cũng chỉ có vài chục tế bào trong cơ thể người. Tế bào gốc trưởng thành, bao gồm tế bào gốc tạo máu, tế bào gốc nhu mô, tế bào gốc thần kinh, tế bào gốc biểu mô ống tiêu hóa, tế bào gốc da. Các tế bào gốc được dùng trong nghiên cứu, chủ yếu là trứng thụ tinh thừa ra ở các cơ sở làm thụ tinh trong ống nghiệm, hàng chục ngàn tế bào phôi đông lạnh bị vứt bỏ sau khi chọn được một trứng thụ tinh để cấy vào tử cung mẹ (điều trị thành công). Những tế bào phôi này có thể dùng làm nguồn tế bào gốc. Các nghiên cứu y học tái tạo dùng những tế bào này để phát triển thành mô mới, khỏe mạnh để thay thế mô bị bệnh.

“Nóng” nhất trong giải Nobel Y học 2012 được xem là bước đột phá của con người với hy vọng “cải lão hoàn đồng” của John Gurdon (SN 1933, người Anh) và Shinya Yamanaka (SN 1962, người Nhật) khi đã phát hiện ra tế bào gốc trưởng thành có thể được tái lập trình về di truyền học để thành một tế bào giống tế bào gốc phôi. Quá trình này nôm na một cách dễ hiểu là “tế bào gốc vạn năng nuôi cấy (iPSC)”.

Nguồn: sức khoẻ đời sống

Xoa bóp - bấm huyệt & tập luyện cải thiện đau cổ gáy

/ No Comments
Đau cổ gáy là bệnh hay gặp trên lâm sàng, bệnh liên quan đến bệnh lý đốt sống, cơ, mạch máu, thần kinh vùng cổ.


Day huyệt phong phủ

Bệnh thường gặp ở người cao tuổi và hiện nay gặp cả ở người trẻ, nhất là những nhân viên văn phòng do làm việc nhiều với máy tính lâu và trong phòng có máy điều hòa nhiệt độ... Với các nguyên nhân thường gặp như sau: nằm sai tư thế, gối đầu quá cao bị nhiễm máy lạnh đột ngột chấn thương; thoái hóa - thoát vị đĩa đệm cột sống cổ…

Xoa bóp - bấm huyệt vùng cổ gáy

Tư thế người được xoa bóp: nằm sấp.

Tư thế người xoa bóp (thầy thuốc): đứng phía sau hoặc một bên bệnh nhân để thực hiện kỹ thuật.

Kỹ thuật thao tác:

Xoa xát vùng vai: hai tay áp sát cổ đưa qua vai úp bàn tay hất lên suốt từ cổ đến vai. Có thể xoa xát với bột talc hay dầu bôi trơn.
Miết: dùng các đầu ngón tay miết từ mỏm vai lên cổ và miết cạnh hai bên cột sống

Day cơ

Bóp nắn cơ: dùng tay bóp nắn cơ, cơ thang, cơ denta, cơ ức đòn chũm, các cơ quanh cột sống cổ.

Nhào cơ: dùng 2 tay véo cơ lên và nhào các cơ lớn như cơ thang, cơ denta, cơ ức đòn chũm.

Day cơ: dùng gốc bàn tay day các cơ trên vai, động tác nhẹ.

Lăn: vùng tam giác Phong trì, Đại chùy, Kiên tĩnh.

Ấn day điểm đau nhất: tìm và day ấn điểm đau, chú ý cự án hay thiện án mà day ấn từ nhẹ đến nặng thích hợp.

Day ấn huyệt: Phong phủ, Phế du, Đốc du, Phong trì, Đại chùy, Kiên tĩnh...



Lăn cơ

Vận động khớp cổ: quay cổ, nghiêng cổ, ngửa cổ, tổng hợp các động tác…

Bóp vai: bóp huyệt Phong trì, bóp gáy, bóp vai, vờn vai.

Xát cơ: dùng 2 bàn tay mô ngón út và ngón cái sát các cơ trên vùng vai đến gáy và ngược lại.

Rung cơ: dùng tay áp xát vào cổ rung với tần số cao từ cổ đến vai 2 bên.

Xoa bóp vùng cổ gáy từ 20 - 25 phút mỗi ngày, làm từ 3 - 5 ngày là được.

Tập luyện vùng cổ

Động tác ưỡn cổ:

Nằm ngửa thẳng, hai tay xuôi, lấy điểm tựa là xương chẩm và mông, ưỡn cổ và vai lên. Hít vào tối đa, giữ hơi mở thanh quản bằng cách hít thêm, đồng thời dao động vai qua lại 4 lần, thở ra triệt để ép bụng, nghỉ, hạ vai xuống. Làm lại từ 3 - 5 lần. Động tác này có tác dụng: tập các cơ phía sau lưng, tập cột sống trong vùng giữa 2 xương bả vai và vùng cổ không cho cứng, dao động qua lại để tăng công hiệu động tác, làm cho khí huyết lưu thông, làm cho ấm vùng cổ, gáy, lưng trên, ra mồ hôi, chống thấp khớp, trị cảm cúm, chữa chứng đau cổ gáy, cải thiện hen suyễn.

Động tác ưỡn cổ



Động tác xem xa, xem gần:

Ngồi hoa sen, hai bàn tay đan vào nhau và để trước bụng dưới, mắt nhìn vào ngón tay.

Động tác xem xa, xem gần
Đưa hai tay lên trời mắt vẫn nhìn vào một điểm cố định của bàn tay, đồng thời hít vào tối đa; giữ hơi mở thanh quản (bằng cách hít thêm), đồng thời dao động thân qua lại từ 2 - 6 cái, thở ra triệt để, hạ tay xuống trước bụng, mắt vẫn nhìn theo tay; nghỉ. Làm từ 3 - 5 lần. Có tác dụng: luyện mắt và các khớp chi trên, tập vùng lưng trên.

Động tác đầu sát giường lăn qua lăn lại:

Tư thế ngồi hoa sen, đầu cúi sát giường, hai tay để lên hai đầu gối. Hít vào tối đa, giữ hơi (hít thêm để mở thanh quản) đồng thời lăn đầu qua lại từ 2 - 6 cái, mỗi lần lăn qua một bên cố gắng ngó lên trần nhà, thở ra triệt để.
Động tác đầu sát giường, lăn qua lăn lại

Làm từ 3 - 5 lần. Động tác này nhằm tập cột sống vùng cổ, và các khớp khác: khớp háng…, trị đau lưng, cổ, đau các khớp chi dưới. Người có cao huyết áp không nên tập động tác này.

Những điều cần chú ý:
Xoa bóp bấm huyệt làm trong giai đoạn có tê, đau, khó chịu, cứng khớp vùng cổ gáy có hiệu quả tốt
Trong giai đoạn ổn định nên tập 3 động tác trên thường xuyên, trong tập luyện chú ý “tập đều chớ không tập nhiều”, ngày 2 buổi tập sáng, tối với số lần tập của 3 động tác từ 10 - 15 lần là được.
- Day huyệt Phong phủ
- Day cơ
- Lăn cơ
- Động tác ưỡn cổ
- Động tác đầu sát giường, lăn qua lăn lại
- Động tác xem xa, xem gần
BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ